I. CHI PHÍ NGẮN HẠN – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản khá đầy đủ của tài liệu tại đây ( 240.56 KB, 13 trang )

Tổng chi phí (TC) là toàn bộ chi phí để sản xuất ra một số lượng sản phẩm q nhất định.

Tổng chi phí gồm hai bộ phận cấu thành: chi phí cố định hay còn gọi là chi phí cố định và chi

phí biến đổi hay còn gọi là biến phí.

Chi phí cố định (FC) là những khoản chi phí không thay đổi khi sản lượng thay đổi.

Như vậy, chi phí cố định là những chi phí mà doanh nghiệp phải trả dù không sản xuất một

sản phẩm nào. Tùy theo loại hình sản xuất mà định phí có thể là tiền thuê mặt bằng, thuê nhà

máy, khấu hao máy móc, thiết bị, tiền mua bảo hiểm và cũng có thể là tiền lương, v.v.

Chi phí biến đổi (VC) là những khoản chi phí tăng giảm cùng với mức tăng giảm của

sản lượng. Chi phí biến đổi có thể gồm các khoản chi phí: nhiên liệu, nguyên, vật liệu, tiền

lương theo sản phẩm, v.v…

(4.6)

TC = FC + VC

Chi phí

TC

VC

FC

q

O

Hình 3.2. Các đường tổng chi phí, biến phí và định phí

I. 2. CHI PHÍ TRUNG BÌNH (AC) VÀ CHI PHÍ BIÊN (MC)

Bảng 4.2 trình bày chi phí sản xuất phở của nhà hàng “Phở ngon”

Chi phí trung bình

Chi phí trung bình là tổng chi phí tính trên một đơn vị sản phẩm.

AC =

TC FC + VC FC VC

=

=

+

= AFC + AVC

q

q

q

q

(4.7)

trong đó:

AFC là chi phí cố định trung bình

AVC là chi phí biến đổi trung bình

Chúng ta thấy rằng khi sản lượng sản xuất ra tăng, AFC giảm. Điều đó có thể làm

giảm chi phí trung bình. Vì vậy, người ta luôn tìm cách sử dụng hết công suất nhà máy, máy

móc thiết bị để giảm chi phí trung bình cho 1 đơn vị sản phẩm.

Chi phí biên

Chi phí biên là chi phí tăng thêm do sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm.

Vì định phí không thay đổi khi mức sản lượng của doanh nghiệp thay đổi nên chi phí

biên thực ra là lượng biến phí tăng thêm do sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm. Vì vậy, hàm

chi phí biên có dạng:

MC =

∆TC ∆VC dTC dVC

=

=

=

∆q

∆q

dq

dq

(4.8)

trong đó: MC là chi phí biên để sản xuất ra một sản phẩm.

5

Bảng 4.2. Các chi phí ngắn hạn của nhà hàng “Phở ngon “

Sản

Định phí

Biến phí

Tổng chi phí Chi phí

Chi phí

Định phí

lượng

(FC)

(VC)

(TC)

biên

trung bình

trung bình

(q)

(MC)

(AC)

(AFC)

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

(7)

0

4000

0

4000

1

4000

3000

7000

3000

7000

4000

2

4000

5000

9000

2000

4500

2000

3

4000

6000

10000

1000

3333

1333

4

4000

6600

10600

600

2650

1000

5

4000

7000

11000

400

2200

800

6

4000

7800

11800

800

1967

667

Xem thêm  Top 10 thẻ tín dụng hoàn tiền cao nhất hiện nay – Ngân Hàng Online

7

4000

9000

13000

1200

1857

571

8

4000

11000

15000

2000

1875

500

9

4000

13500

17500

2500

1944

444

10

4000

17000

21000

3500

2100

400

Ghi chú: Đơn vị tính của sản lượng là ngàn tô và của các loại chi phí là ngàn đồng.

Biến phí

trung bình

(AVC)

(8)

3000

2500

2000

1650

1400

1300

1286

1375

1500

1700

Chi phí biên chính là đạo hàm của hàm số tổng chi phí theo sản lượng, hay là độ dốc

của đường tổng chi phí.

I.3.

HÌNH DẠNG CỦA ĐƯỜNG CHI PHÍ BIÊN

Nhìn vào cột chi phí biên (cột 5), chúng ta thấy chi phí biên lúc bắt đầu sản xuất cao, sau đó

giảm xuống và sau đó lại tăng lên. Như vậy, đường chi phí biên có hình chữ U: lúc đầu cao,

sau đó giảm rồi lại tăng như trong hình 4.3.

Chi phí

MC

q

O

Hình 4.3. Đường chi phí biên hình chữ U

Ở mức sản lượng thấp, doanh nghiệp cũng phải trang trải tất cả những khoản chi phí

cần thiết cho sản xuất nên phần chi phí tăng thêm (chi phí biên) rất cao. Chẳng hạn, chủ quán

phở phải mua một số lượng vật liệu nhất định (bàn ghế, bánh phở, thịt, rau, v.v). Khi sản

lượng tăng thêm, doanh nghiệp có thể tận dụng những đầu vào có sẵn từ việc sản xuất những

sản phẩm trước đó nên phần chi phí tăng thêm sẽ giảm dần. Những sản phẩm tiếp theo sẽ có

chi phí thấp hơn nên chi phí biên giảm dần. Tuy nhiên, khi sản lượng tăng đến một mức nào

đó, khó khăn trong quản lý một doanh nghiệp lớn sẽ có thể xuất hiện. Năng suất của vốn và

lao động dần dần giảm đi do việc sử dụng kém hiệu quả. Bây giờ, việc tăng sản lượng sẽ trở

nên đắt đỏ hơn. Như vậy, chi phí bắt đầu tăng lên lại.

6

I.4.

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ TRUNG BÌNH VÀ CHI PHÍ BIÊN

Theo số liệu về các chi phí trong bảng 4.2, chúng ta có các nhận xét sau về sự thay đổi

của chi phí trung bình và chi phí biên.

Khi chi phí biên thấp hơn tổng chi phí trung bình (MC < AC) thì nó kéo chi phí trung bình xuống, làm cho đường chi phí trung bình dốc xuống. Khi chi phí biên vừa bằng với chi phí trung bình (MC = AC) thì chi phí trung bình không giảm nữa và lúc đó chi phí trung bình đạt cực tiểu. Đường MC và AC giao nhau tại điểm cực tiểu của AC. Khi MC cao hơn AC (MC > AC) thì nó sẽ đẩy AC lên, đường AC dốc lên.

Ví dụ: một cầu thủ ghi 3 bàn thắng trong 3 trận đấu, số bàn thắng trung bình là 1

bàn/trận. Trận tiếp theo anh ta ghi 2 bàn, số bàn ghi thêm lớn hơn số trung bình ban đầu làm

cho số bàn trung bình sau tăng lên thành 1,25. Trận tiếp nữa anh ta chỉ ghi thêm 1 bàn, ít hơn

Xem thêm  Vận dụng lý thuyết “tài chính hành vi” để lý giải hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam

số bàn trung bình trước đó, số bàn trung bình sau sẽ giảm xuống thành 1,2.

Những hàm chi phí cụ thể có thể có nhiều hình dạng khác nhau. Hình dạng phổ biến

của đường chi phí bao hàm những giả định chung về chi phí được trình bày trong hình 3.4.

II.

Chi phí

Hình 4.4. Các đường chi phí ngắn hạn: AC, MC, AVC và AFC

TÍNH KINH TẾ THEO QUY MÔ

SMC

Khi xem xét là chúng ta quan tâm đến quyết định sản xuất trong dài hạn. Tính kinh tế

theo qui mô được thể hiện thông qua sự thay đổi của chỉ tiêu chi phí trung bình dài hạn

(LAC). Các trường hợp của tính kinh tế theo qui mô lần lượt mô tả trong hình 4.5.

SAC

• Khi doanh nghiệp tăng sản lượng mà làm cho LAC giảm, ta gọi quá trình sản xuất này có

tính kinh tế nhờ quy mô (hình a);

AVC

• Khi doanh nghiệp tăng sản lượng mà làm cho LAC vẫn không đổi, ta gọi quá trình sản

xuất này có lợi tức theo quy mô cố định (hình b);

• Khi doanh nghiệp tăng sản lượng mà làm cho LAC tăng, ta gọi AFC trình sản xuất này có

quá

tính phi kinh tế vì quy mô (hình c).

O

q

Chi phí

Chi phí

Chi phí

LAC

LAC

LAC

O

q

a) Tính kinh tế nhờ quy mô.

Nhà sản xuất tăng sản lượng làm

chi phí trung bình giảm xuống nên

đường AC dốc xuống.

O

q

O

b) Lợi tức theo quy mô cố định.

Nhà sản xuất tăng sản lượng, chi

phí trung bình không đổi nên

đường AC nằm ngang.

q

c) Tính phi kinh tế nhờ quy mô.

Nhà sản xuất tăng sản lượng làm

chi phí trung bình tăng lên nên

đường AC đi lên.

Hình 4.5. Tính kinh tế theo quy mô

7

Theo những nghiên cứu về sản xuất lúa gạo ở nước ta, một hộ nông dân sản xuất có

tính kinh tế nhờ quy mô khi quy mô đất đai không quá 2 hecta. Vượt quá 2 hecta, sản xuất trở

nên phi kinh tế vì quy mô (Phương, 1997; Thông, 1998). Điều này có thể được giải thích dựa

vào trình độ kỹ thuật canh tác của nông dân. Nông dân có trình độ kỹ thuật thấp và khả năng

quản lý kém nên họ chỉ có khả năng sản xuất tốt trên một diện tích đất đai nhỏ. Khi diện tích

đất đai lớn dần, sẽ xuất hiện những vấn đề của sản xuất lớn mà nông dân không quản lý và

điều tiết có hiệu quả. Tính phi kinh tế vì quy mô xuất hiện khi diện tích đất đai lớn dần.

PHẦN III. TỐI ĐA HÓA LỢI NHUẬN

VÀ QUYẾT ĐỊNH CUNG CỦA DOANH NGHIỆP

I.

TỐI ĐA HÓA LỢI NHUẬN

Mục tiêu của nhà sản xuất thường là để có được lợi nhuận. Các nhà kinh tế giả định

rằng các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ để kiếm được càng nhiều lợi

Xem thêm  Quản lý vốn cố định: Khấu hao tài sản cố định

nhuận càng tốt. Nói cách khác, các doanh nghiệp thường hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi

nhuận. Có thể có một số người hoài nghi về giả định này vì cho rằng doanh nghiệp có thể

theo đuổi nhiều mục tiêu khác nhau. Chẳng hạn, trong một số trường hợp, doanh nghiệp quan

tâm đến việc tăng doanh thu hơn là tăng lợi nhuận. Trong một số trường hợp khác, doanh

nghiệp muốn giảm thiểu những rủi ro trong hoạt động mà hy sinh một phần lợi nhuận, v.v.

Xét cho cùng, những công việc đó đều nhằm mục tiêu kiếm được lợi nhuận trong dài hạn. Giả

định về tối đa hóa lợi nhuận sẽ giúp ích cho chúng ta trong việc tìm hiểu quá trình cung ứng

của doanh nghiệp. Trong phạm vi của môn học này, chúng ta chỉ xem xét sự tối đa hóa lợi

nhuận của một doanh nghiệp sản xuất duy nhất một loại sản phẩm. Điều này có thể là khiếm

khuyết bởi vì trong thực tế, một doanh nghiệp hiện đại thường sản xuất nhiều loại sản phẩm

đồng thời. Tuy nhiên, mục tiêu của chúng ta là phác họa hình ảnh đơn giản về hoạt động của

doanh nghiệp để tìm hiểu rõ ràng về quyết định cung ứng của các doanh nghiệp.

I.1.

DOANH THU BIÊN

Như chúng ta đã biết, lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. Giả sử doanh

nghiệp sản xuất và bán ra một số lượng sản phẩm là q ở mức giá P. Khi đó, doanh thu (TR)

của doanh nghiệp sẽ là tích số của P và q. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp cũng phụ thuộc

vào mức sản lượng q. Vì vậy, lợi nhuận cũng sẽ là một đại lượng phụ thuộc vào sản lượng. Ta

có thể viết công thức tính lợi nhuận như sau:

π( q) = TR(q) − TC( q) .

(4.9)

trong đó: π, TR, TC lần lượt là lợi nhuận, doanh thu và chi phí. Tất cả các đại lượng

này đều phụ thuộc vào sản lượng q.

Doanh thu biên (MR) là phần doanh thu tăng thêm do sản xuất và tiêu thụ thêm một

đơn vị sản phẩm. Do vậy:

MR =

∆TR dTR

=

.

∆q

dq

(4.10)

Như vậy, doanh thu biên chính là đạo hàm của hàm tổng doanh thu theo sản lượng hay

về mặt đồ thị doanh thu biên chính là độ dốc của đường tổng doanh thu. Chúng ta lưu ý rằng,

nhìn chung, khi doanh nghiệp muốn bán ra nhiều hơn, sản lượng tăng, giá sản phẩm sẽ giảm

xuống (lưu ý là đường cầu dốc xuống từ trái sang phải). Do vậy, mức doanh thu tăng thêm từ

việc bán thêm một sản phẩm sẽ giảm dần khi sản lượng tăng. Điều này dẫn đến việc đường

doanh thu biên dốc xuống từ trái sang phải.

8

Source: https://wikifin.net
Category: Blog

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *