Các công cụ tài chính chủ yếu lưu thông trên thị trường Việt Nam.doc – Tài liệu text

Các công cụ tài chính chủ yếu lưu thông trên thị trường Việt Nam.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (293.11 KB, 31 trang )

ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOAN QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN
MÔN : TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài :
CÁC CÔNG CỤ PHỔ BIẾN LƯU THÔNG
TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIÊT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Đặng Trí Thọ
Nhóm SV thực hiện: Trịnh Trung Cương (27)
Vũ Hồng Chuyên (24)
Đỗ huy Diện (39)
Hà nội, 6-2009
Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 1
Mục lục
Lời nói đầu…………………………………………………………………..3
Chương I:các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ…………………4
1. Tín phiếu kho bạc……………………………………………………..4
2. Kỳ phiếu thương mại…………………………………………………7
3. Hợp đồng mua lại…………………………………………………….12
Chương II: Các công cụ lưu thông trên thị trường vốn…………………..15
I .Khái niệm………………………………………………………………..15
II.Các công cụ chủ yếu lưu thông tại Viện Nam hiện nay……………….15
1. Trái phiếu……………………………………………………………16
2. Cổ Phiếu…………….………………………….………..……………22
3. Các khoản vay thế chấp………………………………………………25
4. Các khoản vay thương mại và tiêu dùng………………………..….28
Kết
luận……………………………………………………………………32
Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 2
Lời nói đầu
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, nhu cầu về vốn luôn là

vấn đề quan trọng được ưu tiên hàng đầu trước khi bắt đầu vào một năm tài khóa mới.
Đề cập đến vấn đề này để thấy rằng việc hình thành một thị trường vốn cho phát triển
kinh tế xã hội là vô cùng quan trọng. Cho nên, việc tìm hiểu thị trường vốn hay thị
trường tài chính là gì và có vai trò to lớn như thế nào đối với nền kinh tế Việt Nam
hiện nay là điều hết sức cần thiết, nhưng chúng ta phải đặc biệt chú trọng các công cụ
lưu thông trên thị trường này.Việt Nam hiện nay là một quốc gia có thị trường mới
phát triển, các công cụ được du nhập vào trong nước,một số công cụ còn khá mới mẻ
nhưng với tốc độ phát triển hiện này thì các công cụ này đã thể hiện được tầm quan
trọng của nó trong việc cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất và tiêu dùng làm cho các
dòng vốn được lưu thông một cách hiệu quả nhất. Nhằm làm rõ vấn đề này, tiểu luận
tập trung phân tích Các công cụ tài chính chủ yếu lưu thông trên thị trường Việt
Nam.
Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 3
CHƯƠNG I
Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các chứng khoán nợ ngắn hạn ( short-term
debt securities) có thời gian luân chuyển vốn không quá 1 năm. Vấn đề chủ yếu mà
những người cho vay trên thị trường tiền tệ quan tâm là an toàn và tính thanh khoản để
có thể rút vốn ngay khi cần. Do đó các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ (các
phương tiện giúp thị trường tài chính lưu chuyển vốn trong ngắn hạn) có đặc điểm
chung là kỳ hạn thanh toán ngắn, tính thanh khoản cao và và độ rủi ro thấp. Các công
cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ khá đa dạng như kỳ phiếu thương mại (thương
phiếu), khế ước giao hàng, tín phiếu kho bạc, tín phiếu của các công ty tài chính,
chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu ngân hàng,quỹ liên bang…, tuy nhiên do khuôn
khổ bài tiểu luận, chúng em chỉ trình bày về 3 loại công cụ chủ yếu đó là : tín phiếu
kho bạc (Treasury bills), kỳ phiếu thương mại (thương phiếu-commercial paper) và
hợp đồng mua lại (Repurchase agreement – Repo)
1. Tín phiếu kho bạc (Treasury bills; T-bills)
a. Khái niệm
Tín phiếu kho bạc là công cụ vay nợ ngắn hạn do Bộ Tài chính (Kho bạc) phát

hành để tài trợ cho những khoản chi tiêu tức thời, các thâm hụt ngắn hạn thường
xuyên của chính phủ hoặc tài trợ các khoản nợ đến hạn.
b. Kỳ hạn thanh toán
Tín phiếu kho bạc có kỳ hạn thanh toán khoảng 1 năm hoặc ngắn hơn (thông
thường có các kỳ hạn 3,6, 12 tháng).Tín phiếu kho bạc được bán theo định kỳ hàng
tuần (Regular weekly T-bills) thường được phát hàn với thời hạn là 28 ngày ( tương
đương 4 tuần hoặc 1 tháng), 91 ngày (tương đương 13 tuần hoặc 3 tháng), 182 ngày
( 26 tuần hoặc 6 tháng), 364 ngày (52 tuần hoặc 1 năm) thông qua các cuộc đấu giá
đơn giá được tổ chức hàng tuần.
Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 4
c. Đặc điểm của tín phiếu kho bạc
Tín phiếu kho bạc phát hành theo từng lô qua Ngân hàng Nhà nước được thực
hiện dưới hình thức đấu thầu (Ngân hàng nhà nước đứng ra làm cơ quan tổ chức bán
số tín phiếu ấy ra ngoài thông qua thị trường mở dưới hình thức đấu thầu) .Ngân hàng
Nhà nước là cơ quan đại lý cho Bộ Tài chính trong việc phát hành, thanh toán tín
phiếu khi đến hạn, tổ chức và quản lý đấu thầu tín phiếu Kho bạc.Việc tổ chức và
giám sát thị trường thứ cấp (mua bán lại tín phiếu sau khi đấu thầu) do Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam thực hiện
Tín phiếu Kho bạc phát hành qua Ngân hàng Nhà nước thông qua đấu thầu có
hình thức và đặc điểm như sau
• Tín phiếu kho bạc thuộc loại chứng khoán chiết khấu. Giống như trái phiếu
chiết khấu, đây là loại chứng khoán không được nhà phát hành trả lãi trước khi
đáo hạn (interest prior to maturity) song lại được bán với giá chiết khấu tức là
giá thấp hơn mệnh giá (par value hay face value). Khi đáo hạn, nhà đầu tư được
nhận lại đủ mệnh giá vì vậy phần chênh lệch giữa mệnh giá chứng khoán và giá
mua chứng khoán chính là lãi của nhà đầu tư (lợi tức tính đến ngày đáo hạn
(Yield To Maturity).
Lợi tức chiết khấu được tính theo công thức:
Lợi tức chiết khấu (%) = (Mệnh giá – Giá bán)/Giá bán * (360/Số ngày đến khi
đáo hạn)* 100%

• Thu và thanh toán bằng đồng Việt Nam. Có mệnh giá tối thiểu là 1.000.000
đồng (một triệu đồng ); các mệnh giá cụ thể cao hơn do Liên Bộ Ngân hàng
Nhà nước – Tài chính quy định và công bố trong thông báo phát hành
• Tín phiếu được phát hành dưới hình thức ghi sổ và chứng chỉ tín phiếu.
– Đối với hình thức ghi sổ: Do Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn và quản lý sổ sách.
– Đối với hình thức chứng chỉ tín phiếu: Ngân hàng Nhà nước in theo mẫu do Bộ
Tài chính quy định.
Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 5
• Việc đấu thầu tín phiếu là đấu thầu lãi suất.- Tín phiếu Kho bạc đấu thầu qua
Ngân hàng Nhà nước được thực hiện theo những nguyên tắc sau:
-Bí mật mọi thông tin đấu thầu trước khi công bố kết quả đấu thầu.
– Tổ chức đấu thầu công khai, bình đẳng về mọi quyền lợi và nghĩa vụ giữa các
đơn vị đấu thầu
-Đơn vị trúng đấu thầu có quyền hạn và trách nhiệm mua tín phiếu theo khối lượng
và lãi suất trúng thầu được thông báo.
• Các Đối tượng tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc bao gồm:
Các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam: Các Ngân hàng thương mại quốc
doanh, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng đầu tư và phát triển; Ngân hàng
liên doanh; chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và các Công ty tài chính;
Các Công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư
• Xác định khối lượng và lãi suất tín phiếu Kho bạc trúng thầu:
Việc xác định khối lượng và lãi suất tín phiếu Kho bạc trúng thầu căn cứ vào:
-Khối lượng và lãi suất đặt thầu của các thành viên.
-Khối lượng tín phiếu Kho bạc dự kiến huy động và lãi suất chỉ đạo.
-Khối lượng tín phiếu Kho bạc trúng thầu được tính theo thứ tự tăng lên của lãi
suất -đặt thầu trong phạm vi lãi suất chỉ đạo.
-Tại mức lãi suất đặt thầu cao nhất trong phạm vi lãi suất chỉ đạo có khối lượng tín
phiếu đặt thầu vượt quá khối lượng tín phiếu dự kiến huy động thì khối lượng tín
phiếu trúng thầu sẽ được phân chia cho mỗi phiếu đặt thầu theo tỷ lệ thuận với
khối lượng tín phiếu đặt thầu của từng phiếu tại mức lãi xuất đó.

-Lãi xuất phát hành tín phiếu là lãi xuất trúng thầu cao nhất được áp dụng chung
cho tất cả các đối tượng trúng thầu.
Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 6
Ngoài khối lượng tín phiếu Kho bạc được phát hành qua Ngân hàng Nhà
nước, Bộ Tài chính còn được tiếp tục phát hành một khối lượng nhất định tín
phiếu Kho bạc để bán lẻ trực tiếp cho dân chúng.
Các loại tín phiếu Kho bạc do hệ thống Kho bạc trực tiếp phát hành phải có
mẫu chứng chỉ khác với mẫu chứng chỉ tín phiếu Kho bạc phát hành qua Ngân
hàng Nhà nước thông qua đấu thầu. Mức lãi suất tín phiếu Kho bạc bán lẻ qua hệ
thống Kho bạc Nhà nước do Bộ Tài chính quy định sau khi có sự thống nhất của
Ngân hàng Nhà nước và phù hợp với mặt bằng lãi suất thị trường.
Như vậy ta có thể thấy được tín phiếu kho bạc không chỉ để bù đắp thiếu hụt
ngân sách nhà nước mà còn là một công cụ quan trọng để ngân hàng nhà nước điều
hành chính sách tiền tệ.
2. Kỳ phiếu thương mại (Thương phiếu)
a. Khái niệm
Trong thực tế, do có sự khác biệt về chu kỳ sản xuất – kinh doanh giữa các doanh
nghiệp, nên việc thừa vốn ở doanh nghiệp này và thiếu vốn ở doanh nghiệp khác là
hiện tượng phổ biến và có tính tất yếu. Trong điều kiện thành phẩm của doanh nghiệp
thừa vốn lại là nguyên, nhiên, vật liệu của doanh nghiệp thiếu vốn, nếu quan hệ mua
bán chịu được thực hiện trong một thời hạn nhất định thì cả hai đều có lợi. Đó chính là
quan hệ tín dụng thương mại.
Để đảm bảo người mua chịu trả nợ khi đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng, người bán
chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính là tờ giấy chứng nhận quan
hệ mua bán chịu nêu trên, tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ nợ lập để đòi tiền,
hoặc do con nợ lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là “kỳ phiếu thương mại” hay
“thương phiếu”.
Vì vậy, thương phiếu ra đời trên cơ sở quan hệ mua bán chịu giữa các chủ thể trong
nền kinh tế. Trong quá trình phát triển, thương phiếu dần dần biến đổi tính chất, từ
một giấy chứng nhận nợ thông thường đã trở thành một công cụ lưu thông tín dụng có

Xem thêm  Sinh viên nên sử dụng hình thức vay ngân hàng nào? | https://wikifin.net

Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 7
thể thực hiện được chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán thay
thế cho tiền mặt trong nền kinh tế.
Vậy thương phiếu là những giấy nhận nợ ngắn hạn do các công ty lớn phát
hành để vay vốn ngắn hạn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
b. Phân loại
Thương phiếu tồn tại dưới 2 hình thức là hối phiếu và lệnh phiếu:
• Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầu người mua chịu
trả một số tiền xác định vào một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho
người thụ hưởng.
• Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam kết trả một số tiền
xác định trong một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho người thụ
hưởng.
Như vậy, hối phiếu là lệnh đòi tiền do chủ nợ lập và chỉ sử dụng trong quan hệ thương
mại, còn lệnh phiếu thì do người mua chịu lập, được sử dụng không chỉ trong quan hệ
thương mại mà còn trong các quan hệ dân sự khác.
c. Tính chất của thương phiếu
Thương phiếu có 3 tính chất:
• tính trừu tượng: Trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyên nhân phát sinh
khoản nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiền phải trả, thời hạn trả tiền và người
trả tiền.
• tính bắt buộc: Qui định người trả tiền phải thanh toán cho người thụ hưởng
đúng hạn, không được phép từ chối hoặc trì hoãn việc trả tiền.
• tính lưu thông: Thương phiếu được chuyển nhượng từ người thụ hưởng sang
người khác bằng phương pháp ký hậu, nó có thể chuyển hoá ra tiền khi mang
đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố. tính chất này khiến thương phiếu
Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 8
trở thành một loại phương tiện thanh toán thay cho tiền trong thời gian hiệu lực
và mệnh giá thương phiếu.
d. Ích lợi và nhược điểm của thương phiếu

Những ích lợi của thương phiếu khi vận dụng vào thực tế:
Có thể kể ra một số lợi ích kinh tế chủ yếu của thương phiếu:
Thứ nhất, nhờ vào tính chất lưu thông, thương phiếu đã trở thành một công cụ lưu
thông tín dụng thay thế tiền mặt, tiết kiệm tiền mặt và góp phần ổn định tiền tệ,
Thứ hai, nó còn là một cơ sở pháp lý trong quan hệ mua bán chịu, bảo vệ quyền lợi
của các chủ thể trong tín dụng thương mại, loại bỏ được tình trạng nợ nần dây dưa
giữa các doanh nghiệp.
Thứ ba, thương phiếu là loại tài sản đảm bảo chắc chắn khi ngân hàng nhận chiết
khấu hay nhận cho vay cầm cố. Hơn thế nữa, tài sản đảm bảo này lại có tính thanh
khoản cao vì ngân hàng có thể mang đi tái chiết khấu hoặc tái cầm cố tại NHNN để
khôi phục nguồn vốn của mình.
Thứ tư, thương phiếu bổ sung hàng hoá cho thị trường mở, tạo điều kiện cho ngân
hàng trung ương thực hiện tốt công tác điều hoà khối tiền trong lưu thông.
Thứ năm, trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằng lệnh phiếu, khi
cần thiết, ngân hàng có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạn bằng cách chuyển
nhượng lệnh phiếu cho ngân hàng khác. Đây là một giải pháp chứng khoán hoá các
khoản cho vay của ngân hàng.
Và cuối cùng, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh và thu hộ thương phiếu, sẽ giúp ngân
hàng tăng thu nhập nhưng không tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình.
Tuy nhiên, thương phiếu khi vận dụng vào thực tế cũng có những nhược điểm nhất
định như:
Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 9
Nhược điểm thứ nhất, do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ dẫn đến tình trạng hai
doanh nghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống (thương phiếu không phát
sinh từ quan hệ mua bán chịu) để mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố.
Chính điều này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng hàng hoá
không thể tồn tại, số tiền cho vay được ngân hàng phát ra không có cơ sở đảm bảo.
Nhược điểm thứ hai, với những nhược điểm sẳn có của tín dụng thương mại, khó có
thể mở rộng qui mô (khối lượng) và thời gian mua bán chịu hàng hoá trong trường
hợp nhu cầu mua chịu quá lớn và thời gian quá lâu.

Nhược điểm thứ ba, quan hệ mua bán chịu này chỉ có thể phát sinh giữa những
doanh nghiệp tín nhiệm, có giao dịch thường xuyên với nhau.
Tuy vậy, do tín dụng thương mại tồn tại song song với tín dụng ngân hàng nên những
khiếm khuyết nêu trên của tín dụng thương mại và của sự vận dụng thương phiếu sẽ
giảm đến mức xem như không đáng kể.
Những ích lợi kinh tế nêu trên khi đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế thì đã quá
rõ, thế nhưng trong thời gian qua, thương phiếu và các nghiệp vụ liên quan đến
thương phiếu vẫn chưa đi vào đời sống kinh tế ở Việt Nam vì những lý do chủ yếu
như sau:
– Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ thương phiếu (Người bán chịu hàng hoá, người
được chuyển nhượng thương phiếu, ngân hàng bảo lãnh…) chưa thật sự có lòng tin
đối với thương phiếu và khả năng chuyển hoá ra tiền của thương phiếu khi đến hạn.
– Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có những thông tư hướng dẫn cụ thể về việc thực
hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu, chưa ban hành mẫu biểu cụ thể cho
thương phiếu để nó có thể trở thành một công cụ lưu thông tín dụng pháp định có thể
thay thế cho tiền mặt trong lưu thông
– Pháp lệnh thương phiếu vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên tính khả thi vẫn còn
kém.
Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 10
Giải pháp
Những giải pháp để đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế ở Việt Nam trong thời
gian trước mắt:
Giải pháp thứ nhất, nhanh chóng tạo dựng một hành lang pháp lý cho sự tồn tại và
cho việc thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu được an toàn và thuận
lợi. Mặc dù Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh thương phiếu có hiệu lực thi hành từ
ngày 1.7.2000 và Chính Phủ đã ban hành nghị định 32/2001/NĐ -CP ngày 5.7.2001
hướng dẫn thi hành pháp lệnh trên nhưng vẫn còn nhiều bất cập như chưa rõ ràng,
thiếu cụ thể, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế…
Giải pháp thứ hai, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, thảo luận về thương phiếu và ích
lợi của thương phiếu đến các doanh nghiệp, là những chủ thể chủ yếu trong quan hệ

thương phiếu.
Giải pháp thứ ba, nâng cao hiệu lực hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng
(CIC) dể có thể cung cấp chính xác và kịp thời năng lực chi trả, uy tín của các doanh
nghiệp có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu, đảm bảo quyền lợi của người thụ hưởng.
Giải pháp thứ tư, trong thời gian đầu Nhà nước cần có những ưu đãi hợp lý cho các
doanh nghiệp cũng như các Tổ chức tín dụng có tham gia vào quan hệ thương phiếu.
Và cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước phải gấp rút ban hành các thông tư hướng dẫn để
các ngân hàng có thể mạnh dạn thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu
như bảo lãnh, chiết khấu và cầm cố thương phiếu. ngân hàng Nhà nước cũng phải
nhanh chóng ban hành mẫu biểu cho thương phiếu, ban hành Luật về các công cụ
chuyển nhượng…
Trên đây chỉ là một số giải pháp cơ bản được đưa ra, tuy nhiên, nếu thực hiện được,
thì việc đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế ở Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành
hiện thực
3. Hợp đồng mua lại
Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 11
a.. Khái niệm
Hợp đồng mua lại (repurchase agreement hay repo hay Sale and Repurchase
Agreement) cho phép người đi vay sử dụng một số chứng khoán tài chính như vật
thế chấp cho 1 khoản vay tiền mặt với 1 mức lãi suất nhất định. Trong một hợp
đồng mua lại, người đi vay thoả thuận sẽ bán cho người cho vay một số chứng
khoán và kèm theo điều khoản mua lại số chứng khoán trên sau 1 khoảng thời gian
nhất định(thường không quá 2 tuần) tại một mức giá cố định (cao hơn mức giá bán
đi). Một hợp đồng mua lại tương đương với một sự chuyển giao tiền mặt cộng với
1 hợp đồng kỳ hạn (forward contract).Kết quả của việc chuyển giao này la việc
tiền mặt được chuyển đến người đi vay và việc chuyển chứng khoán hợp pháp đến
người cho vay trong khi hợp đồng kỳ hạn đảm bảo việc hoàn trả khoản vay tới
người cho vay và trả lại tái sản thế chấp cho người đi vay(là sốchứng khoán đã bán
đi). Điểm khác biệt giữa giá giao sau (forward price) và giá chi trả ngay lập tức
(spot price) là lãi suất của khoản vay, trong khi ngày chi trả của hợp đồng kỳ hạn

chính là ngày đáo hạn của khoản vay.
b. Cấu trúc và thuật ngữ
Về phương diện kinh tế, một hợp đồng mua lại tương tự như một khoản vay được
bảo đảm, với việc người mua nhận được một số chứng khoán như vật thế chấp khi
người đi vay không có khả năng thanh toán khoản nợ. Trong hợp đồng mua lại hầu
hết các loại chứng khoán đều có thể dùng làm vật thế chấp chẳng hạn như tín phiếu
kho bạc, trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty, cổ phiếu (là những khoản vay
không có thế chấp).Tuy nhiên, quyền sở hữu lại chuyển trực tiếp từ người bán đến
người mua (nhà đầu tư).Cu-pon (khoản tiền thanh toán định kỳ trả cho người chủ
sở hữu của chứng khoán) vẫn được trả trực tiếp cho người bán. Điều này có lẽ
ngược so với trực giác thông thường khi quyền sở hữu chứng khoán thuộc về
người mua trong suốt thời gian của thoả thuận.Để thay cho việc cupon chuyển đến
người bán thì 2 bên có thể thoả thuận về khoản tiền thanh toán khi kết thuc hợp
đồng khi đó cupon có thể được chuyển đến người mua.

Xem thêm  Top 20 kinh doanh gì bây giờ ở hà nội mới nhất 2022

Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 12
yếu tố quan trọng được ưu tiên số 1 trước khi mở màn vào một năm tài khóa mới. Đề cập đến yếu tố này để thấy rằng việc hình thành một thị trường vốn cho phát triểnkinh tế xã hội là vô cùng quan trọng. Cho nên, việc khám phá thị trường vốn hay thịtrường tài chính là gì và có vai trò to lớn như thế nào so với nền kinh tế tài chính Việt Namhiện nay là điều rất là thiết yếu, nhưng tất cả chúng ta phải đặc biệt quan trọng chú trọng các công cụlưu thông trên thị trường này. Việt Nam lúc bấy giờ là một vương quốc có thị trường mớiphát triển, các công cụ được gia nhập vào trong nước, một số ít công cụ còn khá mới mẻnhưng với vận tốc tăng trưởng hiện này thì các công cụ này đã biểu lộ được tầm quantrọng của nó trong việc cung ứng vốn cho hoạt động giải trí sản xuất và tiêu dùng làm cho cácdòng vốn được lưu thông một cách hiệu suất cao nhất. Nhằm làm rõ yếu tố này, tiểu luậntập trung phân tích Các công cụ tài chính hầu hết lưu thông trên thị trường ViệtNam. Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 3CH ƯƠNG ICác công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệThị trường tiền tệ là thị trường mua và bán các sàn chứng khoán nợ thời gian ngắn ( short-termdebt securities ) có thời hạn luân chuyển vốn không quá 1 năm. Vấn đề hầu hết mànhững người cho vay trên thị trường tiền tệ chăm sóc là bảo đảm an toàn và tính thanh khoản đểcó thể rút vốn ngay khi cần. Do đó các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ ( cácphương tiện giúp thị trường tài chính lưu chuyển vốn trong thời gian ngắn ) có đặc điểmchung là kỳ hạn giao dịch thanh toán ngắn, tính thanh toán cao và và độ rủi ro đáng tiếc thấp. Các côngcụ lưu thông trên thị trường tiền tệ khá phong phú như kỳ phiếu thương mại ( thươngphiếu ), khế ước giao hàng, tín phiếu kho bạc, tín phiếu của các công ty tài chính, chứng từ tiền gửi tiết kiệm ngân sách và chi phí, kỳ phiếu ngân hàng nhà nước, quỹ liên bang …, tuy nhiên do khuônkhổ bài tiểu luận, chúng em chỉ trình diễn về 3 loại công cụ đa phần đó là : tín phiếukho bạc ( Treasury bills ), kỳ phiếu thương mại ( thương phiếu-commercial paper ) vàhợp đồng mua lại ( Repurchase agreement – Repo ) 1. Tín phiếu kho bạc ( Treasury bills ; T-bills ) a. Khái niệmTín phiếu kho bạc là công cụ vay nợ thời gian ngắn do Bộ Tài chính ( Kho bạc ) pháthành để hỗ trợ vốn cho những khoản chi tiêu tức thời, các thâm hụt thời gian ngắn thườngxuyên của chính phủ nước nhà hoặc hỗ trợ vốn các khoản nợ đến hạn. b. Kỳ hạn thanh toánTín phiếu kho bạc có kỳ hạn giao dịch thanh toán khoảng chừng 1 năm hoặc ngắn hơn ( thôngthường có các kỳ hạn 3,6, 12 tháng ). Tín phiếu kho bạc được bán theo định kỳ hàngtuần ( Regular weekly T-bills ) thường được phát hàn với thời hạn là 28 ngày ( tươngđương 4 tuần hoặc 1 tháng ), 91 ngày ( tương tự 13 tuần hoặc 3 tháng ), 182 ngày ( 26 tuần hoặc 6 tháng ), 364 ngày ( 52 tuần hoặc 1 năm ) trải qua các cuộc đấu giáđơn giá được tổ chức triển khai hàng tuần. Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 4 c. Đặc điểm của tín phiếu kho bạcTín phiếu kho bạc phát hành theo từng lô qua Ngân hàng Nhà nước được thựchiện dưới hình thức đấu thầu ( Ngân hàng nhà nước đứng ra làm cơ quan tổ chức triển khai bánsố tín phiếu ấy ra ngoài trải qua thị trường mở dưới hình thức đấu thầu ). Ngân hàngNhà nước là cơ quan đại lý cho Bộ Tài chính trong việc phát hành, thanh toán giao dịch tínphiếu khi đến hạn, tổ chức triển khai và quản trị đấu thầu tín phiếu Kho bạc. Việc tổ chức triển khai vàgiám sát thị trường thứ cấp ( mua và bán lại tín phiếu sau khi đấu thầu ) do Ngân hàng Nhànước Nước Ta thực hiệnTín phiếu Kho bạc phát hành qua Ngân hàng Nhà nước trải qua đấu thầu cóhình thức và đặc thù như sau • Tín phiếu kho bạc thuộc loại sàn chứng khoán chiết khấu. Giống như trái phiếuchiết khấu, đây là loại sàn chứng khoán không được nhà phát hành trả lãi trước khiđáo hạn ( interest prior to maturity ) tuy nhiên lại được bán với giá chiết khấu tức làgiá thấp hơn mệnh giá ( par value hay face value ). Khi đáo hạn, nhà đầu tư đượcnhận lại đủ mệnh giá thế cho nên phần chênh lệch giữa mệnh giá sàn chứng khoán và giámua sàn chứng khoán chính là lãi của nhà đầu tư ( cống phẩm tính đến ngày đáo hạn ( Yield To Maturity ). Lợi tức chiết khấu được tính theo công thức : Lợi tức chiết khấu ( % ) = ( Mệnh giá – Giá bán ) / Giá bán * ( 360 / Số ngày đến khiđáo hạn ) * 100 % • Thu và thanh toán giao dịch bằng đồng Nước Ta. Có mệnh giá tối thiểu là một triệu đồng ( một triệu đồng ) ; các mệnh giá đơn cử cao hơn do Liên Bộ Ngân hàngNhà nước – Tài chính pháp luật và công bố trong thông tin phát hành • Tín phiếu được phát hành dưới hình thức ghi sổ và chứng từ tín phiếu. – Đối với hình thức ghi sổ : Do Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn và quản trị sổ sách. – Đối với hình thức chứng từ tín phiếu : Ngân hàng Nhà nước in theo mẫu do BộTài chính lao lý. Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 5 • Việc đấu thầu tín phiếu là đấu thầu lãi suất vay. – Tín phiếu Kho bạc đấu thầu quaNgân hàng Nhà nước được thực thi theo những nguyên tắc sau : – Bí mật mọi thông tin đấu thầu trước khi công bố tác dụng đấu thầu. – Tổ chức đấu thầu công khai minh bạch, bình đẳng về mọi quyền lợi và nghĩa vụ và nghĩa vụ và trách nhiệm giữa cácđơn vị đấu thầu-Đơn vị trúng đấu thầu có quyền hạn và nghĩa vụ và trách nhiệm mua tín phiếu theo khối lượngvà lãi suất vay trúng thầu được thông tin. • Các Đối tượng tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc gồm có : Các tổ chức triển khai tín dụng thanh toán hoạt động giải trí tại Nước Ta : Các Ngân hàng thương mại quốcdoanh, Ngân hàng thương mại CP, Ngân hàng đầu tư và tăng trưởng ; Ngân hàngliên doanh ; Trụ sở Ngân hàng quốc tế và các Công ty tài chính ; Các Công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm, quỹ góp vốn đầu tư • Xác định khối lượng và lãi suất vay tín phiếu Kho bạc trúng thầu : Việc xác lập khối lượng và lãi suất vay tín phiếu Kho bạc trúng thầu địa thế căn cứ vào : – Khối lượng và lãi suất vay đặt thầu của các thành viên. – Khối lượng tín phiếu Kho bạc dự kiến kêu gọi và lãi suất vay chỉ huy. – Khối lượng tín phiếu Kho bạc trúng thầu được tính theo thứ tự tăng lên của lãisuất – đặt thầu trong khoanh vùng phạm vi lãi suất vay chỉ huy. – Tại mức lãi suất vay đặt thầu cao nhất trong khoanh vùng phạm vi lãi suất vay chỉ huy có khối lượng tínphiếu đặt thầu vượt quá khối lượng tín phiếu dự kiến kêu gọi thì khối lượng tínphiếu trúng thầu sẽ được phân loại cho mỗi phiếu đặt thầu theo tỷ suất thuận vớikhối lượng tín phiếu đặt thầu của từng phiếu tại mức lãi xuất đó. – Lãi xuất phát hành tín phiếu là lãi xuất trúng thầu cao nhất được vận dụng chungcho toàn bộ các đối tượng người tiêu dùng trúng thầu. Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 6N goài khối lượng tín phiếu Kho bạc được phát hành qua Ngân hàng Nhànước, Bộ Tài chính còn được liên tục phát hành một khối lượng nhất định tínphiếu Kho bạc để kinh doanh bán lẻ trực tiếp cho dân chúng. Các loại tín phiếu Kho bạc do mạng lưới hệ thống Kho bạc trực tiếp phát hành phải cómẫu chứng từ khác với mẫu chứng từ tín phiếu Kho bạc phát hành qua Ngânhàng Nhà nước trải qua đấu thầu. Mức lãi suất vay tín phiếu Kho bạc kinh doanh nhỏ qua hệthống Kho bạc Nhà nước do Bộ Tài chính lao lý sau khi có sự thống nhất củaNgân hàng Nhà nước và tương thích với mặt phẳng lãi suất vay thị trường. Như vậy ta hoàn toàn có thể thấy được tín phiếu kho bạc không chỉ để bù đắp thiếu hụtngân sách nhà nước mà còn là một công cụ quan trọng để ngân hàng nhà nước nhà nước điềuhành chủ trương tiền tệ. 2. Kỳ phiếu thương mại ( Thương phiếu ) a. Khái niệmTrong thực tiễn, do có sự độc lạ về chu kỳ luân hồi sản xuất – kinh doanh thương mại giữa các doanhnghiệp, nên việc thừa vốn ở doanh nghiệp này và thiếu vốn ở doanh nghiệp khác làhiện tượng phổ cập và có tính tất yếu. Trong điều kiện kèm theo thành phẩm của doanh nghiệpthừa vốn lại là nguyên, nhiên, vật tư của doanh nghiệp thiếu vốn, nếu quan hệ muabán chịu được thực thi trong một thời hạn nhất định thì cả hai đều có lợi. Đó chính làquan hệ tín dụng thanh toán thương mại. Để bảo vệ người mua chịu trả nợ khi đúng hạn, bên cạnh sự tin cậy, người bánchịu còn yên cầu phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính là tờ giấy ghi nhận quanhệ mua bán chịu nêu trên, tờ giấy ghi nhận này hoàn toàn có thể do chủ nợ lập để đòi tiền, hoặc do con nợ lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là “ kỳ phiếu thương mại ” hay “ thương phiếu ”. Vì vậy, thương phiếu sinh ra trên cơ sở quan hệ mua bán chịu giữa các chủ thể trongnền kinh tế tài chính. Trong quy trình tăng trưởng, thương phiếu từ từ đổi khác đặc thù, từmột giấy ghi nhận nợ thường thì đã trở thành một công cụ lưu thông tín dụng thanh toán cóTiểu luận tài chính – tiền tệ Page 7 thể triển khai được tính năng phương tiện đi lại lưu thông và phương tiện đi lại thanh toán giao dịch thaythế cho tiền mặt trong nền kinh tế tài chính. Vậy thương phiếu là những giấy nhận nợ thời gian ngắn do các công ty lớn pháthành để vay vốn thời gian ngắn ship hàng cho hoạt động giải trí sản xuất kinh doanhb. Phân loạiThương phiếu sống sót dưới 2 hình thức là hối phiếu và lệnh phiếu : • Hối phiếu là chứng từ có giá do người bán chịu lập, nhu yếu người mua chịutrả một số tiền xác lập vào một thời hạn và ở một khu vực nhất định chongười thụ hưởng. • Lệnh phiếu là chứng từ có giá do người mua chịu lập, cam kết trả một số ít tiềnxác định trong một thời hạn và ở một khu vực nhất định cho người thụhưởng. Như vậy, hối phiếu là lệnh đòi tiền do chủ nợ lập và chỉ sử dụng trong quan hệ thươngmại, còn lệnh phiếu thì do người mua chịu lập, được sử dụng không riêng gì trong quan hệthương mại mà còn trong các quan hệ dân sự khác. c. Tính chất của thương phiếuThương phiếu có 3 đặc thù : • tính trừu tượng : Trên thương phiếu không ghi đơn cử nguyên do phát sinhkhoản nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiền phải trả, thời hạn trả tiền và ngườitrả tiền. • tính bắt buộc : Qui định người trả tiền phải thanh toán giao dịch cho người thụ hưởngđúng hạn, không được phép phủ nhận hoặc trì hoãn việc trả tiền. • tính lưu thông : Thương phiếu được chuyển nhượng ủy quyền từ người thụ hưởng sangngười khác bằng giải pháp ký hậu, nó hoàn toàn có thể chuyển hoá ra tiền khi mangđến ngân hàng nhà nước xin chiết khấu hoặc cầm đồ. đặc thù này khiến thương phiếuTiểu luận tài chính – tiền tệ Page 8 trở thành một loại phương tiện đi lại giao dịch thanh toán thay cho tiền trong thời hạn hiệu lựcvà mệnh giá thương phiếu. d. Ích lợi và điểm yếu kém của thương phiếuNhững ích lợi của thương phiếu khi vận dụng vào trong thực tiễn : Có thể kể ra 1 số ít quyền lợi kinh tế tài chính đa phần của thương phiếu : Thứ nhất, nhờ vào đặc thù lưu thông, thương phiếu đã trở thành một công cụ lưuthông tín dụng thanh toán thay thế sửa chữa tiền mặt, tiết kiệm chi phí tiền mặt và góp thêm phần không thay đổi tiền tệ, Thứ hai, nó còn là một cơ sở pháp lý trong quan hệ mua bán chịu, bảo vệ quyền lợicủa các chủ thể trong tín dụng thanh toán thương mại, vô hiệu được thực trạng nợ nần dây dưagiữa các doanh nghiệp. Thứ ba, thương phiếu là loại gia tài bảo vệ chắc như đinh khi ngân hàng nhà nước nhận chiếtkhấu hay nhận cho vay cầm đồ. Hơn thế nữa, gia tài bảo vệ này lại có tính thanhkhoản cao vì ngân hàng nhà nước hoàn toàn có thể mang đi tái chiết khấu hoặc tái cầm đồ tại NHNN đểkhôi phục nguồn vốn của mình. Thứ tư, thương phiếu bổ trợ hàng hoá cho thị trường mở, tạo điều kiện kèm theo cho ngânhàng TW thực thi tốt công tác làm việc điều hoà khối tiền trong lưu thông. Thứ năm, trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhà nước nhận nợ bằng lệnh phiếu, khicần thiết, ngân hàng nhà nước hoàn toàn có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạn bằng cách chuyểnnhượng lệnh phiếu cho ngân hàng nhà nước khác. Đây là một giải pháp sàn chứng khoán hoá cáckhoản cho vay của ngân hàng nhà nước. Và ở đầu cuối, trải qua nhiệm vụ bảo lãnh và thu hộ thương phiếu, sẽ giúp ngânhàng tăng thu nhập nhưng không tăng rủi ro đáng tiếc trong hoạt động giải trí kinh doanh thương mại của mình. Tuy nhiên, thương phiếu khi vận dụng vào thực tiễn cũng có những điểm yếu kém nhấtđịnh như : Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 9N hược điểm thứ nhất, do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ dẫn đến thực trạng haidoanh nghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống ( thương phiếu không phátsinh từ quan hệ mua bán chịu ) để mang đến ngân hàng nhà nước xin chiết khấu hoặc cầm đồ. Chính điều này đã làm cho cơ sở bảo vệ của thương phiếu là tín dụng thanh toán hàng hoákhông thể sống sót, số tiền cho vay được ngân hàng nhà nước phát ra không có cơ sở bảo vệ. Nhược điểm thứ hai, với những điểm yếu kém sẳn có của tín dụng thanh toán thương mại, khó cóthể lan rộng ra qui mô ( khối lượng ) và thời hạn mua và bán chịu hàng hoá trong trườnghợp nhu yếu mua chịu quá lớn và thời hạn quá lâu. Nhược điểm thứ ba, quan hệ mua bán chịu này chỉ hoàn toàn có thể phát sinh giữa nhữngdoanh nghiệp tin tưởng, có thanh toán giao dịch liên tục với nhau. Tuy vậy, do tín dụng thanh toán thương mại sống sót song song với tín dụng thanh toán ngân hàng nhà nước nên nhữngkhiếm khuyết nêu trên của tín dụng thanh toán thương mại và của sự vận dụng thương phiếu sẽgiảm đến mức xem như không đáng kể. Những ích lợi kinh tế tài chính nêu trên khi đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế tài chính thì đã quárõ, thế nhưng trong thời hạn qua, thương phiếu và các nhiệm vụ tương quan đếnthương phiếu vẫn chưa đi vào đời sống kinh tế tài chính ở Nước Ta vì những nguyên do chủ yếunhư sau : – Các chủ thể tham gia vào nhiệm vụ thương phiếu ( Người bán chịu hàng hoá, ngườiđược chuyển nhượng ủy quyền thương phiếu, ngân hàng nhà nước bảo lãnh … ) chưa thật sự có lòng tinđối với thương phiếu và năng lực chuyển hoá ra tiền của thương phiếu khi đến hạn. – Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có những thông tư hướng dẫn đơn cử về việc thựchiện các nhiệm vụ tương quan đến thương phiếu, chưa phát hành mẫu biểu đơn cử chothương phiếu để nó hoàn toàn có thể trở thành một công cụ lưu thông tín dụng thanh toán pháp định có thểthay thế cho tiền mặt trong lưu thông – Pháp lệnh thương phiếu vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên tính khả thi vẫn cònkém. Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 10G iải phápNhững giải pháp để đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế tài chính ở Nước Ta trong thờigian trước mắt : Giải pháp thứ nhất, nhanh gọn tạo dựng một hiên chạy pháp lý cho sự sống sót vàcho việc triển khai các nhiệm vụ tương quan đến thương phiếu được bảo đảm an toàn và thuậnlợi. Mặc dù Quốc hội đã trải qua Pháp lệnh thương phiếu có hiệu lực hiện hành thi hành từngày 1.7.2000 và Chính Phủ đã phát hành nghị định 32/2001 / NĐ – CP ngày 5.7.2001 hướng dẫn thi hành pháp lệnh trên nhưng vẫn còn nhiều chưa ổn như chưa rõ ràng, thiếu đơn cử, chưa tương thích với thông lệ quốc tế … Giải pháp thứ hai, tổ chức triển khai tuyên truyền, thông dụng, tranh luận về thương phiếu và íchlợi của thương phiếu đến các doanh nghiệp, là những chủ thể hầu hết trong quan hệthương phiếu. Giải pháp thứ ba, nâng cao hiệu lực thực thi hiện hành hoạt động giải trí của Trung tâm thông tin tín dụng thanh toán ( CIC ) dể hoàn toàn có thể cung ứng đúng chuẩn và kịp thời năng lượng chi trả, uy tín của các doanhnghiệp có nghĩa vụ và trách nhiệm giao dịch thanh toán thương phiếu, bảo vệ quyền hạn của người thụ hưởng. Giải pháp thứ tư, trong thời hạn đầu Nhà nước cần có những tặng thêm hài hòa và hợp lý cho cácdoanh nghiệp cũng như các Tổ chức tín dụng thanh toán có tham gia vào quan hệ thương phiếu. Và sau cuối, Ngân hàng Nhà nước phải hối hả phát hành các thông tư hướng dẫn đểcác ngân hàng nhà nước hoàn toàn có thể mạnh dạn triển khai các nhiệm vụ tương quan đến thương phiếunhư bảo lãnh, chiết khấu và cầm đồ thương phiếu. ngân hàng nhà nước Nhà nước cũng phảinhanh chóng phát hành mẫu biểu cho thương phiếu, phát hành Luật về các công cụchuyển nhượng … Trên đây chỉ là 1 số ít giải pháp cơ bản được đưa ra, tuy nhiên, nếu triển khai được, thì việc đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế tài chính ở Nước Ta chắc như đinh sẽ trở thànhhiện thực3. Hợp đồng mua lạiTiểu luận tài chính – tiền tệ Page 11 a .. Khái niệmHợp đồng mua lại ( repurchase agreement hay repo hay Sale and RepurchaseAgreement ) được cho phép người đi vay sử dụng 1 số ít sàn chứng khoán tài chính như vậtthế chấp cho 1 khoản vay tiền mặt với 1 mức lãi suất vay nhất định. Trong một hợpđồng mua lại, người đi vay thoả thuận sẽ bán cho người cho vay một số ít chứngkhoán và kèm theo pháp luật mua lại số sàn chứng khoán trên sau 1 khoảng chừng thời giannhất định ( thường không quá 2 tuần ) tại một mức giá cố định và thắt chặt ( cao hơn mức giá bánđi ). Một hợp đồng mua lại tương tự với một sự chuyển giao tiền mặt cộng với1 hợp đồng kỳ hạn ( forward contract ). Kết quả của việc chuyển giao này la việctiền mặt được chuyển đến người đi vay và việc chuyển sàn chứng khoán hợp pháp đếnngười cho vay trong khi hợp đồng kỳ hạn bảo vệ việc hoàn trả khoản vay tớingười cho vay và trả lại tái sản thế chấp ngân hàng cho người đi vay ( là sốchứng khoán đã bánđi ). Điểm độc lạ giữa giá giao sau ( forward price ) và giá chi trả ngay lập tức ( spot price ) là lãi suất vay của khoản vay, trong khi ngày chi trả của hợp đồng kỳ hạnchính là ngày đáo hạn của khoản vay. b. Cấu trúc và thuật ngữVề phương diện kinh tế tài chính, một hợp đồng mua lại tương tự như như một khoản vay đượcbảo đảm, với việc người mua nhận được 1 số ít sàn chứng khoán như vật thế chấp ngân hàng khingười đi vay không có năng lực giao dịch thanh toán khoản nợ. Trong hợp đồng mua lại hầuhết các loại sàn chứng khoán đều hoàn toàn có thể dùng làm vật thế chấp ngân hàng ví dụ điển hình như tín phiếukho bạc, trái phiếu cơ quan chính phủ và trái phiếu công ty, CP ( là những khoản vaykhông có thế chấp ngân hàng ). Tuy nhiên, quyền sở hữu lại chuyển trực tiếp từ người bán đếnngười mua ( nhà đầu tư ). Cu-pon ( khoản tiền giao dịch thanh toán định kỳ trả cho người chủsở hữu của sàn chứng khoán ) vẫn được trả trực tiếp cho người bán. Điều này có lẽngược so với trực giác thường thì khi quyền sở hữu chứng khoán thuộc vềngười mua trong suốt thời hạn của thoả thuận. Để thay cho việc cupon chuyển đếnngười bán thì 2 bên hoàn toàn có thể thoả thuận về khoản tiền thanh toán giao dịch khi kết thuc hợpđồng khi đó cupon hoàn toàn có thể được chuyển đến người mua. Tiểu luận tài chính – tiền tệ Page 12

Xem thêm  Tổng hợp các mô hình giá phổ biến nhất định phải biết trong forex - https://wikifin.net

Source: https://wikifin.net
Category: Blog

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *